Dầu nghệ, tác dụng của dầu nghệ với sức khỏe, những nghiên cứu

Nghệ vàng là một loài cây được dùng làm thuốc chữa bênh từ gần 4000 năm trước. Ở Đông Nam Á, nghệ vàng không chỉ được dùng làm gia vị mà còn là một phần trong các nghi lễ tôn giáo. Y học hiên đại đã bắt đầu nhận ra tầm quan trọng của nghệ, thể hiện rõ qua trên 3000 ấn bản khoa học về nghệ trong 25 năm qua. Dưới đây là tổng hợp các kết quả nghiên cứu về tác dụng của dầu nghệ vàng đối với sức khỏe.

Dầu nghệ, sức khỏe, curcumin, virus, nghệ vàng, tinh bột nghệ, bột nghệ, nghệ vàng, tinh bot nghe, bot nghe, nghe vang

Tác dụng của dầu nghệ với sức khỏe

Có hơn 100 thành phần được tách lọc từ nghệ vàng. Thành phần chính là một loại dầu, bao gồm turmerone, và các yếu tố tạo màu khác gọi là curcuminoid. Curcuminoid chứa curcumin demethoxycurcumin, 5’-methoxycurcumin, và dihydrocurcumin, là những chất chống oxy hóa tự nhiên (Ruby et al. 1995; Selvam et al. 1995). Ở dạng thông thường, nghệ chứa nước (>9%), curcumin (5-6.6%), chất xơ (<0.5% trọng lượng), nấm (<3%) và dầu (<3.5%). Các dầu hoạt tính cao bao gồm d-α-phellandrene, d-sabinene, cinol, borneol, zingiberene, và sesquiterpenes (Ohshiro, Kuroyanag, and Keno 1990). Có nhiều loại sesquiterpenes như germacrone; termerone; ar-(+)-, α-, and β-termerones; β-bisabolene; α-curcumene; zingiberene; β-sesquiphellanderene; bisacurone; curcumenone; dehydrocurdione; procurcumadiol; bis-acumol; curcumenol; isoprocurcumenol; epiprocurcumenol; procurcumenol; zedoaronediol; và curlone, nhưng một số chất chỉ có ở một số giống nghệ nhất định

Nghệ vàng có các tính chất chữa trị nhờ thành phần hoạt chất của nó. Một trong những thành phần quan trọng của nghệ là dầu hoạt tính của nghệ. Dầu nghệ ngăn chặn vi nấm ngoài da do trichophyton ở chuột lang nhà. Nghiên cứu của Apisariyakul, Vanittanakom, and Buddhasukh (1995) cho thấy 15 dạng nấm ngoài da được ngăn chặn bởi dầu nghệ pha loãng ở tỉ lệ 1:40 đến 1:320. Đáng chú ý hơn, không có dạng nấm nào trong 15 dạng này bị ảnh hưởng bởi curcumin. Các nghiên cứu về tác dụng chống virus của dầu nghệ zedoary (nghệ trắng) khi được phun sương và ống hô hấp cho thấy virus cúm, virus parainfluenza I và III, virus hợp bào hô hấp, adenovirus 3 và 7 bị ngăn chặn tương đối, trong khi đó virus parainfluenza II bị ngăn chặn đáng kể bởi hợp chất này của nghệ (Huang et al. 2007).

Dầu nghệ cải thiện thiếu hụt chức năng thần kinh do thiếu máu cũng như khối lượng của vùng hoại tử và phù ở chuột. Nó điều hòa giảm lượng NO sinh ra do iNOS tạo ra khi thương tổn do thiếu máu diễn ra, trùng hợp với tỉ lệ sống sót của các neuron gia tăng (Dohare et al. 2008).

Tác dụng bảo vệ thần kinh của dầu curcuma ở các trường hợp thương tổn do thiếu máu lên não được liên hệ với hoạt tính chống oxy hóa. Ngoài ra, dầu curcuma giảm nhẹ hiện tượng chết thần kinh trì hoãn qua một đường dẫn liên quan đến caspase. Do đó, dầu curcuma có vẻ là một nhân tố có tiềm năng trong việc chữa trị không chỉ đột quỵ mà còn trong các chứng bệnh khác liên quan đến thiếu oxy (Rathore et al. 2008).

Một nghiên cứu cho thấy rằng tiêu hóa nghệ oleoresin và dầu cơ bản giúp ngăn chặn sử tiến triển của quá trình tăng đường máu và tích mỡ bụng ở chuột bị béo phì (Honda et al. 2006).

Chiết xuất hexan của curcumin comosa, một loài nghệ bản địa ở Thái Lan, thường được dụng để chữa trị viêm tử cung, ở nồng độ 0.1, 0.5, và 1 μM đã được phát hiện làm giảm đáng kể NO và PGE2 sinh ra bởi LPS. Nó cũng làm giảm sự thể hiện của iNOS và COX-2 (Thampithak et al. 2009).

Dầu nghệ cũng có tác dụng chống các chứng bệnh đường hô hấp. Loại dầu hoạt tính này giúp loại bỏ đờm, giảm ho, và ngăn hen suyễn. Do đó, dầu hoạt tính của nghệ có thể là phương thuốc hữu hiệu trong việc điều trị các bệnh hô hấp (Li et al. 1998). Dầu nghệ còn có thể đuổi các loài muỗi ban ngày và ban đêm (Tawatsin et al. 2001).

Nguồn ncbi.nlm.nih.gov

Bookmark and Share