Curcumin ngăn ngừa tái phát viêm màng bồ đào trước mạn tính [P3]

Thảo luận

Trong một bài báo tổng quan gần đây Jacob et al nghiên cứu cơ chế của hoạt động chống viêm của curcumin cả trong ống nghiệm và trong mô sống các nghiên cứu tiền lâm sàng. Các tác giả đã chứng minh tác động chống viêm có lợi và yếu tố chống tăng trưởng nội mô (VEGF)  qua  việc điều hòa PPAR-γ (curcumin trên thực tế, là một chất đồng vận PPAR-γ) [3]. Tế bào miễn dịch chủ yếu là tham gia vào các ổ viêm ở mắt là tại thần kinh đệm và microglia. Những tế bào tham gia trong ổ viêm ở mắt được kiểm soát trong các chức năng bằng hoạt động của PPAR-γ, một cơ quan cảm biến quá trình chuyển hóa trong cơ thể [13]. Nhiều bệnh thoái hóa mắt ban đầu không được coi là viêm (bệnh tăng nhãn áp, thoái hóa điểm vàng liên quan đến tuổi, thiếu máu võng mạc, và bệnh võng mạc tiểu đường) giờ đây được xem xét lại từ góc nhìn của các bệnh do viêm. Do đó, việc điều trị viêm có thể là một mục tiêu quan trọng để quản lý các bệnh mắt. Dựa trên những quan sát này, những chứng bệnh có nguồn gốc tưởng chừng hoàn toàn khác biệt cùng hội tụ thông qua hiện tượng viêm. Các tác dụng có lợi của curcumin được đề xuất bởi các thử nghiệm về dịch tễ học, được hỗ trợ bởi các nghiên cứu trên động vật, và được suy luận từ các nghiên cứu trên mô sống nhưng chưa được xác nhận lâm sàng, bởi vì những nhược điểm chính của việc điều trị với curcumin là sự ổn định và khả dụng sinh học của nó. Curcumin gần đây đã được hợp phức hóa với phospholipid và sản phẩm thu được (Meriva) có sinh khả dụng cải thiện ít nhất 10 lần so với  curcumin thường ở người [19 – 21, 24 – 26].

Curcumin, viêm màng bồ đào, viêm màng bồ đào trước, võng mạc, curcumin-phosphatidylcholine, PPAR-γ, nghệ vàng, tinh bột nghệ, nghe vang, tinh bot nghe, bột nghệ, bot nghe, viem mang bo dao

Curcumin ngăn ngừa tái phát viêm màng bồ đào trước mạn tính

♦  Viêm màng bồ đào triệu chứng và cách điều trị viêm màng bồ đào

Sau khi xem xét nhiều nghiên cứu về chất curcumin và hỗn hợp curcumin-phosphatidylcholine, một số nghiên cứu liên quan đến tác dụng chống viêm của hỗn hợp này trong các bệnh về mắt, [13 – 15, 19, 22, 27 – 39], chúng tôi đã quyết định chứng minh hiệu quả của liệu pháp điều trị qua đường uống Norflo trong việc tái phát mạn tính điển hình ở mắt như viêm màng bồ đào trước bằng phương pháp nghiên cứu không sử dụng giả dược kiểm soát. Đây là một liệu pháp hỗ trợ cho phương pháp điều trị tiêu chuẩn ở 122 bệnh nhân bị ảnh hưởng bởi viêm màng bồ đào trước do nhiều nguyên nhân khác nhau. Tất cả các bệnh nhân đã hoàn thành ít nhất 1 năm theo dõi, nhưng 16 bệnh nhân bị loại khỏi nghiên cứu; 15 người trong số đó vì không tuân thủ đầy đủ với phác đồ điều trị của chúng tôi hoặc không đến trong các lần theo dõi và một người do hội chứng không dung nạp dạ dày liên quan đến trào ngược thực quản. Chúng tôi chỉ đưa vào nghiên cứu những bệnh nhân được theo dõi ít nhất 2 năm bị viêm màng bồ đào mạn tính tái phát và được chăm sóc tại đại học của chúng tôi, một việc rất khó quản lý do tần số tái phát cao và không thể tiên đoán trước thời điểm tái phát. Những đối tượng này bị viêm màng bồ đào do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó chúng ta tìm thấy ba nhóm yếu tố gây bệnh chính:

  • Liên quan đến herpe (virus varicella zoster, virus herpes simplex, bệnh cytomegalovirus và Epstein-Barr virus),
  • Viêm màng bồ đào tự miễn (sarcoidosis, hội chứng chồng chéo, lupus đỏ hệ thống, và viêm khớp dạng thấp)
  • Bệnh viêm mắt, và nguồn gốc khác nhau viêm màng bồ đào trước (8 người không rõ nguồn gốc, 7 người căn nguyên toxoplasmic , 3 người bệnh lao, và 4 người bệnh Lyme).

Trong ba nhóm, những bệnh nhân nhạy cảm nhất với phương pháp điều trị này là bệnh nhân viêm màng bồ đào trước tự miễn, và những bệnh nhân tái phát nhiều hơn đều có nguồn gốc từ bệnh viêm màng bồ đào không do Herpe. Điều này có thể được giải thích bởi thực tế là viêm màng bồ đào do Herpe là sự kết hợp của các bệnh tự miễn dịch và nguồn gốc của virus với các triệu chứng tái phát thường xuyên. Một quá trình điều trị liên tục và kéo dài sẽ cho kết quả tốt về tác dụng chống viêm và phòng ngừa tái phát.

Mua tinh bột nghệ vàng trị viêm màng bồ đào ở đâu?

Tinh bột nghệ Thu Hương được sản xuất từ nghệ vàng vùng châu thổ Sông Hồng, là loại nghệ được các nhà khoa của Viện Hàn lâm lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam đánh giá là có hàm lượng curcumin cao nhất nước. Tinh bột nghệ Thu Hương được sản xuất theo phương pháp cổ truyền, trên dây chuyền công nghệ tiên tiến, đã loại bỏ chất xơ và dầu.

Chúng tôi cam kết sn phm nguyên cht 100%, đảm bo v sinh an toàn thc phm. Sn phm có phiếu kim nghim đạt tiêu chun cht lượng ca Vin Thc phm chc năng và hp chun Vit Nam.

Tinh bt ngh Thu Hương đã đưc Vin Tiêu chun cht lượng Vit Nam cp mã s mã vch.

Tinh bt ngh Thu Hương có dch v chuyn hàng ti tn nhà cho quý khách.

Cam kết nhn li hàng nếu khách hàng không va lòng k c hàng đã dùng ri.

Khi mua tinh bột nghệ Thu Hương chữa viêm màng bồ đào bạn sẽ được tư vấn của dược sỹ đã có 10 năm nghiên cứu về thảo dược, nghệ vàng và kinh nghiệm sử dụng tinh bột nghệ vàng giúp ngăn ngừa tái phát viêm màng bồ đào

Liên hệ mua tinh bột nghệ: 0904073838 / 043.7841340.

Trên thực tế, trong thời gian điều trị đầu tiên, chúng tôi quan sát thấy một số lần tái phát nhưng những lần tái phát này biến mất vào cuối giai đoạn điều trị. Trong nghiên cứu của chúng tôi, theo Malchiodi-Albedi et al, [13] chúng tôi cho rằng hiệu quả điều trị của các phối tử PPAR-γ được thể hiện qua sự khống chế và cải thiện các triệu chứng lâm sàng và giảm các dấu hiệu lâm sàng.

Về tác dụng phụ, chúng tôi báo cáo chỉ có một bệnh nhân đã phải ngừng điều trị vì hiện tương không dung nạp dạ dày khi dùng viên curcumin không được báo cáo trong y văn (chúng tôi chỉ tìm thấy báo cáo về dị ứng viêm da tiếp xúc do curcumin gây ra) [31, 32].

♦ Viêm màng bồ đào và lợi ích của nghệ vàng tri bệnh viêm màng bồ đào

Các kết luận của nghiên cứu này là chúng ta có thể xác định chất curcumin là một hoạt chất sinh học, dung nạp tốt, và không độc hại trong điều trị.

Trong các tài liệu chỉ có một nghiên cứu trước đây về viêm màng bồ đào trước mạn tính và điều trị bằng curcumin. Đây là một nghiên cứu nhỏ, trong đó curcumin được uống với liều hàng ngày là 1,125 mg ở 36 bệnh nhân, chia thành hai nhóm: thuốc curcumin và thuốc điều trị chống viêm tại chỗ và được điều trị trước đó cộng với điều trị chống lao. Các kết quả trong nghiên cứu này cho thấy kết quả thuận lợi đáng ngạc nhiên cho các đối tượng chỉ điều trị curcumin. Các nhà nghiên cứu giải thích kết quả quan trọng này bằng cách giả định rằng chất curcumin có hiệu quả như điều trị corticosteroid, nhưng không có bằng chứng nào về tác dụng phụ [22].

Công trình của chúng tôi cho thấy lần trước tiên công thức Meriva cho phép chúng ta đạt nồng độ điều trị tích cực trong mắt ở một liều lượng phổ biến hai viên / ngày và được dung nạp tốt. Thực tế, khoảng 90% số bệnh nhân được lựa chọn hoàn thành quá trình theo dõi 1 năm. Sự thành công của công trình của chúng tôi cho thấy rằng tiềm năng chống viêm của curcumin có thể hữu ích trong các bệnh mạn tính bề mặt khác của mắt, chẳng hạn như hội chứng khô mắt, viêm kết mạc dị ứng, viêm bờ mi. Chen et al khảo sát hiệu quả chống viêm của curcumin trong điều trị mô hình hội chứng mắt khô trong ống nghiệm và kết luận rằng chất curcumin có tác dụng trị liệu tiềm năng cho điều trị bệnh này [29, 30]. Hơn nữa, công dụng điều trị của curcumin bên cạnh các phương thức điều trị truyền thống có thể hữu ích trong các bệnh viêm võng mạc, như phù hoàng điểm hoặc trong các bệnh tăng sinh neovascular võng mạc, vì curcumin cũng đã được ghi nhận có khả năng điều chỉnh sự hình thành mạch. Hình thành mạch không kiểm soát được đã được liên hệ với các bệnh về mắt bệnh lý, chẳng hạn như bệnh võng mạc tiểu đường và choroidal hoặc neovascularization võng mạc liên quan đến tác dụng VEGF [14,15, 19, 40 – 42]. Trong thực tế, chất curcumin đã được chứng minh có khả năng ngăn chặn choroidal và neovascularization võng mạc ở một số mô hình thí nghiệm động vật , đặc biệt là thông qua sự ức chế biểu hiện thụ thể VEGF [15].

♦ Nghệ vàng hỗ trợ điều trị, ngăn ngừa tái phát viêm màng bồ đào

Thử nghiệm của chúng tôi có những giới hạn thông thường của một nghiên cứu kiểm soát không dùng giả dược, mặc dù chúng tôi đã so sánh về phân tích thống kê theo nhóm tần xuất tái phát bệnh viêm màng bồ đào trong 2 năm trước khi điều trị và 1 năm sau khi điều trị, là những người có thể được xem là một nhóm kiểm soát trong khoảng thời gian trước khi điều trị Norflo, do chúng tôi chỉ  thêm curcumin vào phác đồ điều trị tiêu chuẩn trước đó.

Hạn chế khác là thiếu các số đo chuẩn cho ổ viêm ở khoang trước của mắt bằng dụng cụ đo nhiệt tế bào bằng lazer, nhưng các công cụ mới này, vốn đã có mặt trên thị trường, có một số khiếm khuyết về cấu trúc khiến nó không đo một giá trị chuẩn xác của viêm nội nhãn trong mọi trường hợp, đặc biệt là ở trường hợp đồng tử nhỏ vì synechiae và vì độ mờ của ống kính, là những vấn đề điển hình của bệnh viêm màng bồ đào trước.

♦ Viêm màng bồ đào – 6 nguyên tắc ngăn ngừa tái phát viêm màng bồ đào

Phần kết luận

Nghệ vàng đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ để điều trị rất nhiều bệnh có nguồn gốc từ viêm nhiễm. Việc bổ sung với curcumin, thành phần hoạt chất của nghệ vàng, đã được chứng minh là an toàn ở người. Cơ chế curcumin gây ra tác dụng chống viêm của nó vẫn chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn, nhưng nhiều nghiên cứu đã chỉ ra sự hữu ích của nó với vai trò là một chất chống viêm và điều chỉnh miễn dịch mạnh. Các chất đồng vận PPAR-γ (như curcumin) tác động lên microglia và các tế bào của hệ miễn dịch để điều chỉnh cả hai phản ứng miễn dịch bẩm sinh và thích ứng, và có thể có ảnh hưởng sâu sắc đến các giai đoạn viêm kế tiếp. Những kết quả tích cực của công trình nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng Norflo (hỗn hợp curcumin-phosphatidylcholine) có thể đóng một vai trò quan trọng trong điều trị hỗ trợ bệnh viêm màng bồ đào trước do nguồn gốc khác nhau và cung cấp cho một đóng góp vào hiệu quả tiềm năng của sản phẩm nguồn gốc thực vật này trong y học.

Lưu ý: Sản phẩm hiệu quả phụ thuộc vào cơ địa của từng người.

Nguồn ncbi.nlm.nih.gov

> Curcumin ngăn ngừa tái phát viêm màng bồ đào trước mạn tính [P1]

> Curcumin ngăn ngừa tái phát viêm màng bồ đào trước mạn tính [P2]

tinh bột nghệ, bột nghệ, tinh bot nghe, bot nghe, nghệ vàng, nghe vang

tinh bột nghệ, bột nghệ, tinh bot nghe, bot nghe, nghệ vàng, nghe vang

Tài liệu than khảo

  1. Bengmark S. Curcumin an atoxic antioxidant and natural NFkappab, cycclooxygenase-2, lipooxygenase and inducible nitric oxide synthase inhibitor: a shield against acute and chronic diseases. J Par Ent Nutr. 2006; 30 (1):61–62
  2. Bright JJ. Curcumin and autoimmune disease. Adv Exp Med Biol. 2007; 595 :425–451
  3. Jacob A, Rongqian W, Zhou M, Wang P. Mechanism of the anti-inflammatory effect of curcumin: PPAR-γ activation. PPAR Res. 2007; 89369
  4. Nonn L, Duong D, Preehl DM. Chemopreventive anti-inflammatory activities of curcumin and other phytochemicals mediated by MAP kinase phosphatase-5 in prostate cells.Carcinogenesis. 2007; 28 :1188–1196.
  5. Shakibaei M, John T, Schulze–Tanzil G, Lehmann I, Mobasheri A. Suppression of NF-kappaB activation by curcumin leads to inhibition of expression of cyclo-oxygenase-2 and matrix-metalloproteinase-9 in human articular chondrocytes: implications for the treatment of osteoarthritis. Biochem Pharmacol. 2007; 73 :1434–1445.
  6. Strimpakos AS, Sharma RA. Curcumin: preventive and therapeutic properties in laboratory studies and clinical trials. Antioxid Redox Signal. 2008; 10 :511–545.
  7. Holt PR, Katz S, Kirshoff R. Curcumin therapy in inflammatory bowel disease: a pilot study.Dig Dis Sci. 2005; 50 :2191–2193.
  8. Jobin C, Bradham CA, Russo MP, et al. Curcumin blocks cytokine-mediated NF-kappaB Activation pro-inflammatory gene expression by inhibiting inhibitory factor I-kappaB kinase activity. J Immunol. 1999; 15 :3474–3483.
  9. Mohan R, Sivak J, Ashton P, et al. Curcuminoids inhibit the angiogenic response stimulated by fibroblast growth-factor-2, including expression of matrix metalloproteinase gelatinase B. J Biolog Chem. 2000; 275 (14):10405–10412.
  10. Goel A, Kunnumakkara AB, Aggarwal BB. Curcumin as “curecumin”: from kitchen to clinic. Biochem Pharmacol. 2008; 75 (4):787–809.
  11. Biswas S, Rahman I. Modulation of steroid activity in chronic inflammation: a novel anti-inflammatory role for curcumin. Mol Nutr Food Res. Epub 2008 Mar 10.
  12. Yadav VS, Mishra KP, Singh DP, Mehrotra S, Singh VK. Immunomodulatory effects of curcumin. Immunopharmacol Immunotoxicol. 2005; 27 (3):485–497.
  13. Malchiodi-Albedi F, Matteucci A, Bernardo A, Minghetti L. PPAR-γ, microglial cells, and ocular inflammation: new venues for potential therapeutic approaches. PPAR res .2008:295784.
  14. Murata T, He S, Hangai M, et al. Peroxisome proliferator-activated receptor-gamma ligands inhibit choroidal neovascularization. Invest Ophthalmol Vis Sci. 2000; 41 (8):2309–2317.
  15. Bonne C. PPAR gamma: a novel pharmacological target against retinal and choroidal neovascularization. J Fr Ophtalmol. 2005; 28 (3):326–330.
  16. Siddiqui AM, Cui X, Wu R, et al. The anti-inflammatory effect of curcumin in an experimental model of sepsis is mediated by upregulation of peroxisome proliferator-activated receptor-γ Critical Care Med. 2006; 34 (7):1874–1882
  17. Jiang C, Ting T, Seed B. PPAR-γ agonists inhibit production of monocyte inflammatory cytokines. Nature. 1998; 391 :82–86.
  18. Cuomo J, Chernyshev V. Preliminary report–comparative bioavailability of curcuminoids from Meriva® vs 95% curcumin extract. Salt Lake City, UT: Usana Health Sciences, Inc;2009.
  19. Wan YJ, Pan MH, Cheng AL, et al. Stability of curcumin in buffer solutions and characterization of its degradation products. J Pharm Biomed Anal. 1997; 15 (12):1867–1876
  20. Anand P, Kunnumakkara AB, Newman RA, Aggarwal BB. Bioavailability of curcumin: problems and promises. Mol Pharm. 2007; 4 (6):807–818.
  21. Marczylo TH, Verschoyle RD, Cooke DN, Morazzoni P, Steward WP, Gescher AJ.Comparison of systemic availability of curcumin with that of curcumin formulated with phosphatidylcholine. Cancer Chemoter Pharmacol. 2007; 60 :171–177.
  22. Lal B, Kapoor AK, Asthana OP, et al. Efficacy of curcumin in the management of chronic anterior uveitis. Phytother Res. 1999; 13 :318–322. 23. Bloch-Michel E, Nussenblatt RB. International Uveitis Study Group. Recommendations for the evaluation of intraocular inflammatory diseases. Am J Ophthalmol. 1987; 103 :234–235
  23. Li L, Braiteh FS, Kurzrock R. Liposome-encapsulated curcumin. In vitro and in vivo effects on proliferation, apoptosis, signaling and angiogenesis. Cancer. 2005; 104 (6):1322–1331.
  24. Jurenka J. Anti-inflammatory properties of curcumin, a major constituent of Curcuma longa: a review of preclinical and clinical research. Alt Med Rev. 2009; 14 (2):141–153
  25. Marczylo TH, Steward WP, Gesher AJ. Rapid analysis of curcumin and curcumin metabolites in rat biomatrices using a novel ultraperformance liquid chromatography method. J Agric Food Chem. 2009; 57 (3):797–803.
  26. Lal B, Kapoor K, Agrawal PK, Asthana OP, Srimal RC. Role of curcumin in idiopathic inflammatory orbital pseudotumours. Phytother Res. 2000; 14 (6):443–447.
  27. Passos E, Grinstead RL, Khoobehi B. Effectiveness of curcumin, an angiogenesis inhibitor, in experimental choroidal neovascularization in rats. Invest Ophthalmol Vis Sci. 2002; 43 E-Abstract 1274.
  28. Chen M, Hu DN, Pan Z, Lu CW, Xue CY, Aass I. Curcumin protects against hyperosmoticity-induced IL-1β elevation in human corneal epithelial cell via MAPK pathways.Exp Eye Res. 2010; 90 (3):437–443.
  29. Kumar PA, Suryanarayana P, Reddy PY, Reddy GB. Modulation of α-crystallin chaperone activity in diabetic rat lens by curcumin. Mol Vision. 2005; 11 :561–568.
  30. Hata M, Sasaki E, Ota M, et al. Allergic contact dermatitis from curcumin (turmeric)Contact Dermatol. 1997; 36 :107–108.
  31. Swierczynska MK, Krecisz B. Occupational skin changes in persons working in contact with food spices. Med Pr. 1998; 49 :187–190
  32. Sharma RA, Steward WP, Gesher AJ. Pharmacokinetics and pharmacodynamics of curcumin. Adv Exp Med Biol. 2007; 595 :453–470.
  33. Lao CD, Ruffin MT, Normolle D, et al. Dose escalation of a curcuminoid formulation.BMC Complement Altern Med. 2006; 6 :10.
  34. Bisht S, Feldmann G, Soni S, et al. Polymeric nanoparticle-encapsulated curcumin: a novel strategy for human cancer therapy. J Nanobiotechnology. 2007; 5 :3.
  35. Maiti K, Mukherjee K, Gantait A, Saha BP, Mukherjee PK. Curcumin-phospholipid complex: preparation, therapeutic evaluation and pharmacokinetic study in rats. Int J Pharm.2007; 330 :155–163.
  36. Aggarwal BB, Sung B. Pharmacological basis for the role of curcumin in chronic diseases: an age-old spice with modern targets. Trends Pharmacol Sci. 2009; 30 (2):85–94.
  37. Barry J, Fritz M, Brender JR. Determining the effects of lipophillic drugs on membrane structure by solid-state NMR spectroscopy–The case of the antioxidant curcumin. J Am Chem Soc. 2009; 131 (12):4490–4498.
  38. Aggarwal BB, Harikumar KB. Potential therapeutic effects of curcumin, the anti-inflammatory agent against neurodegenerative, cardiovascular, pulmonary, metabolic, autoimmune and neoplastic diseases. Int J Biochem Cell Biol. 2009; 41 (1):40–59
  39. Jeong SJ, Koh W, Lee EO, et al. Antiangiogenic phytochemicals and medical herbs.Phytotherapy Res. 2010 Jun 17;
  40. Arbiser JL, Klauber N, Rohan R, et al. Curcumin is an in vivo inhibitor of angiogenesis.Mol Med. 1998; 4 (6):376–383.
  41. Kowluru RA, Kanwar M. Effect of curcumin on retinal oxidative stress and inflammation in diabetes. Nutr Metab. 2007; 4 :8
Bookmark and Share